Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam
kns

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Thu Hương
Ngày gửi: 11h:18' 28-10-2025
Dung lượng: 856.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lương Thu Hương
Ngày gửi: 11h:18' 28-10-2025
Dung lượng: 856.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
175 Giảng Võ - Hà Nội - Việt Nam
Tel: (024) 3851380, Fax: (024) 38515381
Email: info@nxblaodong.com.vn
Website: www.nxblaodong.com.vn
Chi nhánh phía Nam
Số 85 Cách mạng Tháng Tám, Q.1, TP.HCM
Tel: (028) 38390970, Fax: (028) 39257205
BẠN BÌNH AN THẾ GIỚI BÌNH AN
Tác giả: PHÁP NHẬT
Chịu trách nhiệm xuất bản
Giám đốc - Tổng biên tập MAI THỊ THANH HẰNG
Biên tập NXB: Bùi Thị Phương Thúy
Trình bày: Chibooks Design
Bìa: Hiếu Vũ
Tranh bìa: Nguyễn Thanh Bình
Sửa bản in: Ban biên tập Chibooks
Đơn vị liên kết xuất bản:
CÔNG TY CỔ PHẦN VĂN HÓA CHI
77 đường số 10, khu dân cư Nam Long,
P.Tân Thuận Đông, Q.7, TP.HCM
Hotline: 091.999.6829-090.310.3628
Website: chibooks.vn
Email: kinhdoanh@chibooks.vn
In 3000 cuốn, khổ sách 14,5 x 20,5 cm,
tại Công ty TNHH MTV In Báo Nhân Dân TP.HCM
(D20/532P, Ấp 4, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP.HCM).
KHXB: 988-2021/CXBIPH/05-55/LĐ. Số QĐXB: 639/QĐ-NXBLĐ
cấp ngày 15-4-2021. ISBN: 978-604-325-161-6.
In xong và nộp lưu chiểu Quý II năm 2021.
Phần 1
SỨ MẠNG CỦA CHÚNG TA LÀ BÌNH AN,
THẢNH THƠI, VÀ HẠNH PHÚC
TU HỌC PHẬT LÀ HÀNH TRÌNH KHAI TÂM, MỞ TRÍ
T
u học Phật là hành trình khai tâm trí, mở rộng trái tim
yêu thương của mình, thấy rõ được khổ và con đường
thoát khổ. Trong quá trình tu tập để có được nhận thức
đúng đắn (Chánh tri kiến), sự buông bỏ cái tôi ích kỷ, cá nhân,
sống thuận pháp tùy duyên, vô ngã vị tha chính là con đường lý
tưởng của đạo Phật.
Nếu không thấy rõ con đường thì ta cứ mãi quẩn quanh bên
những trò đùa hí luận của thế gian mà thôi. Không những vậy,
ta sẽ chìm đắm vào những sắc màu đầy con trẻ và mãi không
trưởng thành trên bước đường tâm linh của mình.
Những bày vẽ xin xăm, giải hạn, hô thần nhập tượng sẽ đưa
người tín mộ đạo Phật đến đâu? Và đôi khi làm cho nhiều người
hiểu sai tinh thần cốt tủy của đạo, gây bao hiểu lầm, cản lối
những người có tri thức đang muốn tìm hiểu đạo Phật để tìm
đến một phương pháp thực hành tâm linh thực tế, giúp khai mở
tuệ giác và không nhuốm màu sắc mê tín dị đoan.
Lời thật thường mất lòng, nhưng chỉ có dám nhìn thẳng vào sự
thật mới lớn lên được. Thuốc đắng mới hết bệnh, nhưng cũng
tùy vào hoàn cảnh và sự can đảm của mỗi bệnh nhân: Có dám
uống liều thuốc đắng ấy hay không, có muốn mình thật sự hết
bệnh hay không?
Đôi khi, ta tự xây cho mình những chiếc lồng của ảo giác, để tô
điểm bản ngã mình trong đó và đầy thỏa mãn, nhưng hỡi ôi kiếp
người quá mong manh. Chưa kịp tỉnh giấc thì đã hóa người
thiên cổ. Nghiệp lực trăm mối kéo đi trong vòng tái sinh luân
hồi (samsara), biết bao giờ có lại được thân người, biết bao giờ có
duyên với thầy lành bạn tốt để tiếp tục con đường tu Phật.
Vì vậy, nếu ta đã có duyên với đạo thì đừng bỏ lỡ mất đại duyên,
đại phúc này; phí hoài thời gian quý báu chạy theo những hình
sắc, âm thanh ma mị và đầy trò mê tín dị đoan; những bày vẽ,
thêm thắt, bay nhảy mà đánh mất cơ hội trở về với bản tâm
thanh tịnh của chính mình.
Thầy lành, bạn tốt vẫn còn đó, chỉ cần mình thật sự muốn trở về
thì sẽ thấy ra!
THIỀN LÀ SỰ THỰC TẬP CHẾ TÁC NĂNG LƯỢNG NIỆM, ĐỊNH
VÀ TUỆ
Trong đời sống hằng ngày, nhiều khi ta không có khả năng giải
phóng chính mình ra khỏi những lo lắng, phiền não, bất an.
Tâm ta không có khả năng an trú vào giây phút hiện tại. Tâm ta
luôn có khuynh hướng hoặc tìm về quá khứ, hoặc mơ tưởng
tương lai.
Chính vì không có khả năng an trú trong giây phút hiện tại nên
ta cũng không thể nào tiếp xúc được với sự sống. Ta biết rằng sự
sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại. Tiếp xúc với hiện tại
cũng có nghĩa là tiếp xúc với cái đang là, với chim đang hót,
thông đang reo, gió đang thổi, mây đang bay...
Vì không tiếp xúc được với thực tại nên ta cũng không có khả
năng nhìn sâu vào lòng thực tại. Vì không có khả năng nhìn sâu
vào lòng thực tại nên tuệ giác trong ta cũng không có cơ hội
phát sinh để giải phóng ta khỏi những khổ đau bế tắc.
Thiền là phần thực tập chính yếu của đạo Phật. Thực tập thiền
giúp cho ta dễ dàng trở về và an trú trong giây phút hiện tại. Vì
có khả năng an trú được trong giây phút hiện tại nên ta sẽ đạt
được một cái thấy sâu sắc về thực tại. Và cũng chính nhờ vào cái
thấy này mà ta giải phóng được mình ra khỏi những khổ đau, sợ
hãi, lo âu, phiền muộn.
Giúp ta tăng trưởng được chất liệu Bi và Trí trong ta và nâng cao
phẩm chất đời sống, giúp ta có được an lạc, thảnh thơi và những
người xung quanh cũng được lợi lạc từ sự an vui của ta.
Trong khi thực tập Thiền hành giả, tự ta sẽ chế tác ra ba nguồn
năng lượng, đó là: Niệm, Định và Tuệ.
Bất cứ ta làm điều gì trong đời sống hằng ngày như nấu cơm,
rửa bát, tưới rau, quét nhà... mà ta có thể chế tác ra ba nguồn
năng lượng này thì có nghĩa là ta đang hành thiền.
Nếu hiểu về việc hành thiền như vậy, ta sẽ thấy rằng ta có thể
hành thiền bất cứ lúc nào và bất cứ trong tư thế nào. Tôi biết có
rất nhiều người hiểu lầm rằng thiền chỉ có ngồi thôi (tọa thiền).
Nhưng thiền mà chỉ có ngồi thôi thì thiền đó giới hạn quá.
Trong đời sống hằng ngày, ta có bốn tư thế chính, đó là: Đi,
Đứng, Nằm và Ngồi. Như vậy, nếu thực tập thiền chỉ trong lúc
ngồi (tọa thiền) thì ta mới chỉ ứng dụng thiền được một phần tư
thôi. Ta cũng phải thực tập thiền trong lúc nằm, đi, đứng. Thiền
trong lúc chúng ta đi gọi là thiền đi hay thiền hành. Thiền trong
lúc nằm - thiền buông thư. Thiền trong lúc đứng - thiền đứng.
Và hơn thế nữa, ta có thể chế tác ra năng lượng của Niệm, Định
và Tuệ trong lúc ta ăn, uống, rửa bát... Vậy là ta có thêm thiền
ăn, thiền uống và thiền rửa bát...
Vậy Niệm là gì?
Ta có thể hiểu đơn giản: Niệm là nguồn năng lượng giúp ta
nhận biết những gì đang xảy ra trong giây phút đang là. Giây
phút đang là này bao gồm thân thể ta, tâm ta và hoàn cảnh
xung quanh, gọi tắt là Thân-Tâm-Cảnh.
Niệm trong tiếng Phạn là smrti. Chánh niệm là samyaksmrti.
Những gì đang xảy ra trong giây phút đang là, đó là: ta đang đi,
là hơi thở đang đi vào và đi ra, là tia nắng sớm đang chiếu qua
khe lá, là tiếng chim đang hót trong nắng xuân ấm, là tiếng cười
của trẻ thơ, là những tâm hành vui, buồn, giận, thương, ghét…
đang đến và đi trong tâm trí...
Có rất rất nhiều thứ đang diễn ra trong giây phút đang là này. Vì
ta mới thực tập thiền, vì ta là một hành giả rất mới, ta không dễ
cùng lúc nhận diện được hết tất cả những gì đang xảy ra trong
giây phút đang là. Vì Niệm, Định và Tuệ vẫn còn yếu nên ta tập
nhận diện, ý thức những gì rõ ràng, cụ thể và những gì ta muốn
nhận diện.
Trong nhiều kinh điển, Đức Thế tôn cũng thường dạy là hãy
nhấn mạnh vào hơi thở của chúng ta. Vì hơi thở ta luôn có đó,
hơi thở là điều kiện dễ dàng nhất để ta nuôi lớn năng lượng của
Niệm, Định và Tuệ. Thông qua hơi thở, ta cũng có thể biết được
trạng thái tâm của mình.
Ta tập nhận diện, ý thức sự vào, ra của hơi thở. Khi ta thở một
hơi vào và một hơi ra, ta ý thức đây là hơi thở vào và đây là hơi
thở ra. Nếu hơi thở vào dài, ta ý thức hơi thở vào dài. Nếu hơi
thở vào ngắn, ta ý thức hơi thở vào ngắn. Nếu hơi thở ra dài, ta ý
thức hơi thở ra dài. Nếu hơi thở ra ngắn, ta ý thức hơi thở ra
ngắn. Nhận diện và ý thức như vậy được gọi là phép niệm hơi
thở.
Thực tập như trên, ta cũng có thể gọi là sự thực tập chánh niệm
về hơi thở.
Năng lượng của Niệm luôn chứa trong nó năng lượng của Định,
năng lượng của Định sẽ phát sinh ra tuệ giác. Tuệ giác là cái
thấy biết sâu sắc về thực tại, giúp ta giải thoát mình khỏi những
vướng mắc, khổ đau.
Ví dụ như khi có một ai đó làm ta giận, nhờ thực tập chánh
niệm, ta nhận diện được cơn giận đang phát khởi trong lòng.
Lúc này cơn giận vẫn đang có đó, nhưng đồng thời năng lượng
chánh niệm cũng đang có đó, đang quan sát, đang ôm lấy cơn
giận.
Sự dừng lại, quan sát, nhận diện và ôm lấy cơn giận liên tục như
thế sẽ làm phát sinh nguồn năng lượng thứ hai, đó là Định. Vì có
Định nên ta có khả năng dừng lại, và khả năng nhìn sâu vào cơn
giận.
Khi ta có khả năng dừng lại và nhìn sâu vào cơn giận, ta sẽ thấy
được bản chất vô thường, khổ và vô ngã của cơn giận. Đồng
thời, cũng cho ta thấy được sự ảnh hưởng của cơn giận lên
chính thân tâm mình và môi trường xung quanh. Chính cái
“thấy” này giúp ta vượt thoát được cơn giận và đạt được tự do.
Cái “thấy” ấy gọi là Tuệ Giác.
Ta khám phá ra rằng ba nguồn năng lượng Niệm, Định và Tuệ
có trong nhau. Hễ một yếu tố này xuất hiện thì lập tức hai yếu
tố còn lại xuất hiện theo. Định là sự duy trì có mặt, nhận diện
đơn thuần trên một đối tượng của Niệm. Tuệ là thành quả của
sự dừng lại (Định) và nhìn sâu.
Ta không thể nhìn sâu vào thực tại Thân-Tâm- Cảnh nếu như ta
không có khả năng dừng lại.
LỢI ÍCH CỦA VIỆC HÀNH THIỀN
Thực hành thiền sẽ giúp cho ta thấy và hiểu được chính mình.
Nhận biết được những dòng tư tưởng đến, đi trong tâm thức.
Hành thiền giúp ta phục hồi được những giá trị tốt đẹp trong
tâm thức, cân bằng được đời sống trong xã hội hiện đại đầy
những áp lực, lo âu, căng thẳng.
Và quan trọng nhất là giúp cho ta trị liệu và chuyển hóa được rất
nhiều bệnh tật do sự căng thẳng của tâm thức đem tới.
Hành thiền sẽ cho ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa
Thân và Tâm. Và sự tác động của tâm thức bất an lên các bộ
phận của cơ thể. Ví dụ khi ta nóng giận sẽ ảnh hưởng đến gan.
Khi ta có nhiều sự sợ hãi sẽ ảnh hưởng đến thận. Khi ta vui quá
sẽ ảnh hưởng đến tim. Khi ta có quá nhiều lo âu, phiền muộn sẽ
ảnh hưởng đến tỳ vị, ăn không có cảm giác ngon miệng...
Giận hờn, muộn phiền, lo âu... là những hoạt động diễn ra trong
tâm, vậy nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến những bộ phận trong cơ
thể ta như Gan, Tỳ, Thận...
Thực tập thiền, dù chỉ trong một thời gian ngắn thôi, cũng sẽ
giúp ta nhận ra được thiền tập có công năng trị liệu, chuyển hóa
những căng thẳng, lo lắng, muộn phiền, sợ hãi.
Và thiền tập còn giúp cho ta có được niềm vui, sự an định, nhẹ
nhàng, thư giãn. Thiền còn giúp cho ta thăng hoa, kết nối được
với chính mình, với những người mình thương. Thiền giúp ta
tháo gỡ những bế tắc, xoa dịu những tổn thương và thiết lập lại
được mối quan hệ với những người xung quanh.
Khi ta bắt đầu thực hành thiền, ta có thể thực tập một mình
hoặc với một nhóm bạn. Và quan trọng nhất trong bước đầu
hành thiền là ta nên học trực tiếp với một vị thầy có nhiều năm
kinh nghiệm tu tập, hướng dẫn.
THIỀN KHÔNG CẦN ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT NÀO CẢ!
Nhiều người hiểu lầm về thiền. Nhiều người cho rằng thiền là
tập trung tâm ý. Hoặc thiền là ngồi im một chỗ mắt lim dim. Vì
nghĩ rằng thiền là phải ngồi im một chỗ nên sợ không dám tiếp
cận thiền vì không thể ngồi yên liên tục được.
Rồi một số người còn nghĩ rằng thiền là phải tập trung, và muốn
tâm có sự tập trung thì phải có những điều kiện nào đó phụ trợ.
Những điều kiện đó như là: không gian tĩnh lặng, không được
phép có tiếng động khi thiền... Có thể chính vì có những ý tưởng
này nên người muốn hành thiền thường hay lên núi cao, hoặc
vào rừng sâu, nơi không có tiếng ồn nào khuấy động...
Thiền là chiều kích tâm thức vượt lên trên tâm trí. Chỉ có tâm
trí cần tập trung thôi, mà tâm trí muốn có sự tập trung thì phải
nương vào những điều kiện, còn thiền chỉ đơn thuần trọn vẹn
và nhận biết thực tại đang là.
Thiền không cần điều kiện đặc biệt nào cả. Có tiếng ồn của xe,
thì đơn giản nhận biết có tiếng ồn của xe, chỉ thế thôi. Không
cần tập trung tâm ý. Vì hễ có sự tập trung thì sẽ có mất tập
trung, còn trạng thái nhận biết trọn vẹn của tâm thức luôn có
mặt đó sáng ngời.
An trú ngay nơi trạng thái trọn vẹn, nhận biết sáng ngời này của
tâm thức chính là thiền. Và như thế, ta có thể thiền mọi lúc, mọi
nơi, mọi tư thế.
Khi đi trọn vẹn, nhận biết mỗi bước chân thì đó là thiền đi.
Khi thở trọn vẹn, nhận biết từng hơi thở ra vào, đó là thiền thở.
Và hành thiền theo cách này, ta sẽ thấy sức sống của thiền trở
nên mãnh liệt; thiền trở nên sinh động, linh động, có thể ứng
dụng được mọi lúc mọi nơi.
Thiền theo cách này luôn trở về với sự trọn vẹn, nhận biết của ta
sẽ không cần phải tìm một nơi chốn đặc biệt nào để hành thiền.
Thiền theo cách này, ta sẽ không tiếc nuối bất kỳ một cảm giác
Hỷ lạc, hay một trạng thái Định nào đó khi nó không lặp lại...
Tâm có Định thì chỉ cần nhận biết tâm có Định, tâm không có
Định thì nhận biết tâm đang không có Định, tâm có Hỷ lạc thì
nhận biết tâm đang có Hỷ lạc, tâm không có Hỷ lạc thì nhận biết
tâm đang không có Hỷ lạc...
Thiền theo cách này, bạn hoàn toàn thảnh thơi mà không cần cố
gắng, chẳng cần phải kiểm soát, điều khiển bất cứ điều gì…, chỉ
trở về trọn vẹn, nhận biết thực tại đang diễn ra nơi Thân-TâmCảnh trong giây phút đang là.
ĐỐI TƯỢNG NÀO NÊN THỰC TẬP THIỀN?
Vì thiền tập mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực trong hiện tại
và phù hợp với mọi đối tượng nên thiền phù hợp cho mọi giới.
Ngày nay, thiền tập được áp dụng thành công không chỉ cho học
sinh, sinh viên, mà còn cho cả trẻ mẫu giáo. Các bé mẫu giáo tuy
nhỏ, nhưng nếu ta biết cách hướng dẫn, các cháu vẫn có thể
thực hành được nhiều bài thiền tập đơn giản như: nghe chuông
chánh niệm, thực tập ăn trong chánh niệm, tọa thiền tĩnh tâm,
đi thiền hành...
Học sinh, sinh viên nếu thực hành thiền sẽ tăng khả năng chú
tâm. Khi tâm có khả năng chuyên chú trên một đối tượng thì
việc tiếp thu bài vở ở trường hay lắng nghe bài giảng của thầy cô
giáo cũng sẽ hiệu quả hơn.
Giáo viên nếu thực hành thiền thì sự cảm thông, kết nối với học
sinh của mình cũng được tăng lên. Giáo viên thời hiện đại
không chỉ đóng vai trò là người trao truyền kiến thức, mà hơn
thế nữa, còn là người giúp cho những học trò thân yêu của mình
có được cảm hứng học tập và phát huy được tài năng, năng
khiếu riêng.
Nếu trong một tuần mà có một hoặc hai tiết học giáo viên và
học sinh cùng nhau thiền tập thì năng lượng của lớp học sẽ trở
nên ấm áp, bình an và yêu thương. Những giây phút được tĩnh
lặng cùng bạn bè, thầy cô của mình sẽ đi sâu vào tâm trí, trở
thành ký ức đẹp của người học trò và sẽ là hành trang tâm linh
cho các em sau này.
Nếu bạn là bác sĩ, là y tá thì bạn càng cần phải thực hành thiền.
Đôi khi áp lực công việc, đặc biệt là khi tiếp xúc với những bệnh
nhân khó tính dễ làm tâm mình xao động, bất an; hoặc nếu mệt
mỏi trong đời sống hằng ngày thì dễ mắc phải sai sót trong chẩn
bệnh, dẫn đến kết quả không có lợi cho người bệnh cũng như
cho chính mình.
Thực tập thiền sẽ giúp ta cân bằng được trạng thái tâm đó để
đưa ra những chẩn đoán có tính chính xác cao. Và quan trọng
hơn hết là nhờ hành thiền, ta luôn giữ được thái độ điềm tĩnh,
an hòa, lân mẫn, thương yêu và bình an. Chính năng lượng
thương yêu, bình an trong ta sẽ xoa dịu rất nhiều nỗi khổ đau
của bệnh nhân.
Nếu làm được như vậy thì đôi khi sau một ca trị bệnh, ta lại có
thêm rất nhiều người thân.
Nếu bạn là doanh nhân thì lại càng không nên bỏ qua việc hành
thiền. Bởi vì chính thiền tập sẽ cho ta hướng đi trong việc kinh
doanh, giúp ta biết cách quản lý Nghiệp của mình và quan trọng
nhất là ta có thể cân bằng được công việc ở công ty và thời gian
dành cho vợ, cho chồng, cho con.
Thiền tập bây giờ giống như sợi dây giữ ta lại mỗi khi ta bị công
việc cuốn đi. Không những vậy, là một doanh nhân, nếu ta có
thời gian hành thiền sẽ giúp cho mối quan hệ của ta với nhân
viên cũng được tốt đẹp hơn, sâu sắc và bền chặt hơn.
Nếu bạn là một nghệ sĩ, một nhạc sĩ, một nhà văn mà có hành
thiền thì giá trị tác phẩm của bạn sẽ tăng thêm một chiều kích
mới - chiều tâm linh. Thậm chí tác phẩm của bạn có thể định
được cả hướng đi cho xã hội. Và hướng đi ấy sẽ đi về hướng của
hiểu biết, yêu thương, của tha thứ bao dung. Thiên đàng trên
y
g
g
g
mặt đất đang có mặt trong tác phẩm của bạn, trong những đứa
con tinh thần đã ra đời hoặc còn thai nghén. Và bạn nên nhớ
rằng tài năng của mình có thể trang trải yêu thương.
Nếu bạn là một nhà chính trị thì càng phải nên hành thiền. Bởi
đôi khi những quyết định của bạn có thể ảnh hưởng đến hạnh
phúc, bình an không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình mà còn
cả quốc gia, thậm chí cả châu lục. Nếu quyết định đó không sáng
suốt thì hậu quả là vô cùng lớn. Khi hành thiền, tâm trí trở nên
an tịnh như một mặt hồ trong vắt ngày thu. Lúc ấy, mặt hồ
phản chiếu rõ ràng tất cả những sự vật xung quanh, cây cối,
chim chóc, và cả trời mây. Bạn sẽ thấy khung cảnh bên ngoài
một cách sáng rõ khi nhìn vào mặt nước tĩnh lặng của hồ thu.
Và nó cũng giống vậy với tâm của bạn. Một khi tâm bạn tĩnh
lặng, nó sẽ phản ánh tình hình chính trị, kinh tế của tỉnh nhà,
của quốc gia mình, và của cả thế giới một cách trọn vẹn, rõ ràng.
Và quyết định bạn đưa ra sẽ là một quyết định sáng suốt. Quyết
định ấy sẽ giúp ích được cho rất nhiều người.
Bạn là bố, là mẹ thì bạn lại càng cần phải hành thiền. Nhờ thiền
tập mà bạn sẽ thấy ra con cái là sự tiếp nối của chúng ta. Nếu
chúng ta mỗi ngày đều có thể chế tác ra những năng lượng tích
cực, an vui, nếu ta luôn có suy nghĩ thiện lành, lời nói thiện
lành, hành động thiện lành thì con của chúng ta sẽ được tiếp nối
đầy đủ những điều ấy và ngược lại. Nếu ta không khéo léo, ta để
những năng lượng của bạo động, giận hờn, si mê lấn át thì con
cái của chúng ta cũng sẽ tiếp nối những năng lượng ấy.
Nếu bố mẹ, con cái cùng nhau thiền tập thì bầu không khí trong
gia đình sẽ trở nên dịu mát. Năng lượng hiểu, thương của mọi
người sẽ thấm đẫm và chan hòa. Gia đình sẽ trở thành một mái
ấm yêu thương, chở che cho các thành viên trong những ngày
đông rét của cuộc đời.
Thiền rất thiết thực, rất sâu lắng. Thiền chính là đời sống của
chúng ta. Chính vì vậy, bất cứ ai cũng nên học và hành thiền.
Ở
QUÁN TƯỞNG TRƯỚC KHI ĂN
Nếu bạn có cơ hội về thiền viện Pháp Quang tu tập một thời
gian, bạn sẽ được thực tập thiền mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là
trước khi ăn và trong khi ăn.
Trong cuộc sống hối hả, bận rộn ngày nay, ta ít có được thời gian
trọn vẹn cho chính mình. Ta luôn bận rộn, và ta bận rộn ngay cả
trong lúc ăn. Ta không thực sự ăn những thức ăn đang có sẵn
trước mặt mình, mà ta ăn những suy tư, dự án, bất an, bồn
chồn, lo lắng của mình. Và rồi ta đánh mất đi cơ hội tận hưởng
tình thương, hương vị ngọt ngào thơm ngon trong bữa ăn mà
người thương ta nấu cho ta.
Khi ăn, ta không trọn vẹn với thức ăn mình đang đưa vào dạ dày
mà tâm ý luôn suy nghĩ vẩn vơ, người xưa gọi đó là tán tâm tạp
thoại.
Khi ta vào chùa hay thiền viện, phòng ăn còn được gọi là Ngũ
quán đường.
Vào trước bữa ăn, vị Duy na sẽ đọc khai thị và Năm phép quán.
Phật chế Tỳ Kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí
nan tiêu! Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm.
1) Kế công đa thiểu, lượng Bỉ lại xứ
2) Thổn kỷ Đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng
3) Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn
4) Chính sự lương dược, vi liệu hình khô
5) Vị thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực.
Phật chế Tỳ kheo, thực tồn ngũ quán: có nghĩa là Phật đã thiết
lập thể chế rằng các thầy Tỳ kheo trong khi ăn thì nên duy trì
thực tập theo năm phép quán.
Tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu: tán tâm nghĩa là tâm ta
trong khi ăn cứ tán loạn, không tập trung vào việc ăn. Miệng ta
đang nhai, nhưng tâm không có mặt cho hành động nhai, nuốt
thức ăn. Ta không thưởng thức trọn vẹn hương vị thức ăn đang
tiếp nhận vào cơ thể mà tâm trí nghĩ vẩn vơ về chuyện này,
chuyện kia, chuyện trên chuyện dưới. Và vì thế, thức ăn của tín
thí cúng dường cho ta thọ nhận không thể tiêu hóa được. Điều
này cũng rất đúng dưới góc nhìn y học. Khi ta ăn, máu sẽ dồn
xuống bao tử để giúp bao tử tiêu hóa thức ăn dễ dàng. Nhưng
trong lúc ăn, ta lại suy nghĩ thì lượng máu xuống bao tử sẽ bị
chia bớt lên trên não. Do đó, sự tiêu hóa thức ăn sẽ khó khăn
hơn. Lâu ngày có thể ta sẽ bị đau bao tử. Và điều quan trọng
nhất là khi ăn mà suy nghĩ vẩn vơ thì ta sẽ đánh mất đi sự
thưởng thức cũng như sự nhiệm mầu của thức ăn mà ta đang
thọ dụng.
Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm: nghĩa là mọi
người khi nghe tiếng khánh thỉnh lên thì thực tập duy trì chánh
niệm.
Sau phần khai thị này là phần thực tập năm quán.
Quán thứ nhất là kế công đa thiểu, lượng Bỉ lại xứ.
Kế công đa thiểu là xem xét coi công phu làm ra thức ăn mà
chúng ta thọ dụng là nhiều hay ít.
Lượng Bỉ lại xứ là tìm hiểu xem thức ăn này từ đâu mà tới. Thức
ăn này nếu ta nhìn sâu sẽ thấy rằng thức ăn đến từ người nông
phu, từ mưa, nắng, từ những công lao động gặt hái vất vả của
nông dân, từ những con người cần mẫn trên cánh đồng cháy
nắng, từ bàn tay khéo léo của người làm bếp...
Quán thứ hai là Thổn kỷ Đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng.
Ta coi thử mình có đủ Đức hạnh để xứng đáng thọ lãnh thức ăn
này hay không? Trong đời sống hằng ngày, ta có ngăn ác, diệt ác
pháp hay không? Ta có nuôi dưỡng điều thiện đã sanh và phát
triển những điều thiện chưa sanh hay không? Ta có thực tập đầy
đủ Từ, Bi, Hỷ và Xả để nuôi lớn bốn tâm vô lượng này hay
không?
Quán thứ ba là phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn.
Phòng ngừa tâm mình tránh xa những lỗi lầm, tật xấu, mà tật
xấu hàng đầu đó là tham. Trong khi ăn, ta có thấy rằng con mắt
mình to hơn bao tử không? Thấy thức ăn ngon thì gắp thật
nhiều mà cho là ít, để rồi không thể ăn hết, bỏ mứa. Luyện được
chuyện ăn uống có chừng mực, chuyển hóa được tật tham ăn, có
thể nói đó đã là công phu rồi.
Quán thứ tư là chính sự lương dược, vi liệu hình khô.
Khi ăn, ta phải xem thức ăn như là lương dược, như là thuốc để
giúp cho cơ thể ta không bị gầy mòn, ốm yếu. Thân ta như chiếc
bè. Ta cần một chiếc bè tốt để qua bờ tử sanh. Ta không quá coi
trọng thân thể nhưng ta cũng phải chăm sóc thân thể mình
đàng hoàng.
Quán thứ năm là vị thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực.
Vì sao ta thọ nhận thức ăn này? Ta thọ nhận thức ăn này bởi vì
ta muốn hoàn thành đạo nghiệp của mình. Ta thọ nhận thức ăn
này vì ta muốn duy trì thân thể ở trạng thái tốt, hỗ trợ cho việc
tu tập đạt được giải thoát, độ mình độ tha nhân ra khỏi vòng
trầm luân sanh tử, khổ đau phiền não nơi thế giới ta bà này.
BỐN ĐỐI TƯỢNG CỦA THIỀN TẬP
Trong kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98, Đức Phật có dạy cho
chúng ta về bốn đối tượng mà chúng ta có thể tu tập trên đó.
Bốn đối tượng đó là Thân Thể, Cảm Thọ, Tâm Ý và đối tượng của
Tâm Ý.
Vậy ta tu tập trên bốn đối tượng này như thế nào? Trước hết,
chánh niệm luôn là sự khởi đầu của tất cả các nền tảng công
phu tu tập, của các Pháp môn hành trì. Nếu không có chánh
niệm thì ta không thể nào nhận biết được những gì xảy ra một
cách sáng suốt, trong lành và định tĩnh được.
Thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý giống như một
căn nhà có bốn phòng. Mỗi phòng của căn nhà này đều chứa
nhiều đồ đạc. Căn nhà không có đèn, ánh sáng mặt trời cũng
không thể nào chiếu vào được. Vì vậy, phòng nào cũng đều tối
hết.
Nếu ta muốn đi vào nhà và đi vào từng phòng thì sẽ rất khó
khăn. Do đồ đạc nhiều và không ngăn nắp, gọn gàng, hơn nữa
lại không có ánh sáng nên ta không thấy đường, vì thế ta dễ bị
vấp té bất cứ lúc nào.
Ta muốn dọn dẹp căn nhà cho thật gọn gàng và sắp xếp lại mọi
thứ trong từng phòng thì trước tiên, ta phải bật đèn lên. Làm
sao ta có thể dọn dẹp một căn nhà có bốn phòng nếu như ta
không thấy gì trong đó. Ánh sáng rất cần cho trường hợp này.
Ta muốn thân thể ta an tịnh, tâm ta nhẹ nhàng an lạc, thảnh
thơi thì ta cũng cần phải thắp lên ngọn đèn cho thân tâm mình.
Ngọn đèn đó là năng lượng của chánh niệm.
Một khi ngọn đèn chánh niệm được thắp lên, một khi ng
175 Giảng Võ - Hà Nội - Việt Nam
Tel: (024) 3851380, Fax: (024) 38515381
Email: info@nxblaodong.com.vn
Website: www.nxblaodong.com.vn
Chi nhánh phía Nam
Số 85 Cách mạng Tháng Tám, Q.1, TP.HCM
Tel: (028) 38390970, Fax: (028) 39257205
BẠN BÌNH AN THẾ GIỚI BÌNH AN
Tác giả: PHÁP NHẬT
Chịu trách nhiệm xuất bản
Giám đốc - Tổng biên tập MAI THỊ THANH HẰNG
Biên tập NXB: Bùi Thị Phương Thúy
Trình bày: Chibooks Design
Bìa: Hiếu Vũ
Tranh bìa: Nguyễn Thanh Bình
Sửa bản in: Ban biên tập Chibooks
Đơn vị liên kết xuất bản:
CÔNG TY CỔ PHẦN VĂN HÓA CHI
77 đường số 10, khu dân cư Nam Long,
P.Tân Thuận Đông, Q.7, TP.HCM
Hotline: 091.999.6829-090.310.3628
Website: chibooks.vn
Email: kinhdoanh@chibooks.vn
In 3000 cuốn, khổ sách 14,5 x 20,5 cm,
tại Công ty TNHH MTV In Báo Nhân Dân TP.HCM
(D20/532P, Ấp 4, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP.HCM).
KHXB: 988-2021/CXBIPH/05-55/LĐ. Số QĐXB: 639/QĐ-NXBLĐ
cấp ngày 15-4-2021. ISBN: 978-604-325-161-6.
In xong và nộp lưu chiểu Quý II năm 2021.
Phần 1
SỨ MẠNG CỦA CHÚNG TA LÀ BÌNH AN,
THẢNH THƠI, VÀ HẠNH PHÚC
TU HỌC PHẬT LÀ HÀNH TRÌNH KHAI TÂM, MỞ TRÍ
T
u học Phật là hành trình khai tâm trí, mở rộng trái tim
yêu thương của mình, thấy rõ được khổ và con đường
thoát khổ. Trong quá trình tu tập để có được nhận thức
đúng đắn (Chánh tri kiến), sự buông bỏ cái tôi ích kỷ, cá nhân,
sống thuận pháp tùy duyên, vô ngã vị tha chính là con đường lý
tưởng của đạo Phật.
Nếu không thấy rõ con đường thì ta cứ mãi quẩn quanh bên
những trò đùa hí luận của thế gian mà thôi. Không những vậy,
ta sẽ chìm đắm vào những sắc màu đầy con trẻ và mãi không
trưởng thành trên bước đường tâm linh của mình.
Những bày vẽ xin xăm, giải hạn, hô thần nhập tượng sẽ đưa
người tín mộ đạo Phật đến đâu? Và đôi khi làm cho nhiều người
hiểu sai tinh thần cốt tủy của đạo, gây bao hiểu lầm, cản lối
những người có tri thức đang muốn tìm hiểu đạo Phật để tìm
đến một phương pháp thực hành tâm linh thực tế, giúp khai mở
tuệ giác và không nhuốm màu sắc mê tín dị đoan.
Lời thật thường mất lòng, nhưng chỉ có dám nhìn thẳng vào sự
thật mới lớn lên được. Thuốc đắng mới hết bệnh, nhưng cũng
tùy vào hoàn cảnh và sự can đảm của mỗi bệnh nhân: Có dám
uống liều thuốc đắng ấy hay không, có muốn mình thật sự hết
bệnh hay không?
Đôi khi, ta tự xây cho mình những chiếc lồng của ảo giác, để tô
điểm bản ngã mình trong đó và đầy thỏa mãn, nhưng hỡi ôi kiếp
người quá mong manh. Chưa kịp tỉnh giấc thì đã hóa người
thiên cổ. Nghiệp lực trăm mối kéo đi trong vòng tái sinh luân
hồi (samsara), biết bao giờ có lại được thân người, biết bao giờ có
duyên với thầy lành bạn tốt để tiếp tục con đường tu Phật.
Vì vậy, nếu ta đã có duyên với đạo thì đừng bỏ lỡ mất đại duyên,
đại phúc này; phí hoài thời gian quý báu chạy theo những hình
sắc, âm thanh ma mị và đầy trò mê tín dị đoan; những bày vẽ,
thêm thắt, bay nhảy mà đánh mất cơ hội trở về với bản tâm
thanh tịnh của chính mình.
Thầy lành, bạn tốt vẫn còn đó, chỉ cần mình thật sự muốn trở về
thì sẽ thấy ra!
THIỀN LÀ SỰ THỰC TẬP CHẾ TÁC NĂNG LƯỢNG NIỆM, ĐỊNH
VÀ TUỆ
Trong đời sống hằng ngày, nhiều khi ta không có khả năng giải
phóng chính mình ra khỏi những lo lắng, phiền não, bất an.
Tâm ta không có khả năng an trú vào giây phút hiện tại. Tâm ta
luôn có khuynh hướng hoặc tìm về quá khứ, hoặc mơ tưởng
tương lai.
Chính vì không có khả năng an trú trong giây phút hiện tại nên
ta cũng không thể nào tiếp xúc được với sự sống. Ta biết rằng sự
sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại. Tiếp xúc với hiện tại
cũng có nghĩa là tiếp xúc với cái đang là, với chim đang hót,
thông đang reo, gió đang thổi, mây đang bay...
Vì không tiếp xúc được với thực tại nên ta cũng không có khả
năng nhìn sâu vào lòng thực tại. Vì không có khả năng nhìn sâu
vào lòng thực tại nên tuệ giác trong ta cũng không có cơ hội
phát sinh để giải phóng ta khỏi những khổ đau bế tắc.
Thiền là phần thực tập chính yếu của đạo Phật. Thực tập thiền
giúp cho ta dễ dàng trở về và an trú trong giây phút hiện tại. Vì
có khả năng an trú được trong giây phút hiện tại nên ta sẽ đạt
được một cái thấy sâu sắc về thực tại. Và cũng chính nhờ vào cái
thấy này mà ta giải phóng được mình ra khỏi những khổ đau, sợ
hãi, lo âu, phiền muộn.
Giúp ta tăng trưởng được chất liệu Bi và Trí trong ta và nâng cao
phẩm chất đời sống, giúp ta có được an lạc, thảnh thơi và những
người xung quanh cũng được lợi lạc từ sự an vui của ta.
Trong khi thực tập Thiền hành giả, tự ta sẽ chế tác ra ba nguồn
năng lượng, đó là: Niệm, Định và Tuệ.
Bất cứ ta làm điều gì trong đời sống hằng ngày như nấu cơm,
rửa bát, tưới rau, quét nhà... mà ta có thể chế tác ra ba nguồn
năng lượng này thì có nghĩa là ta đang hành thiền.
Nếu hiểu về việc hành thiền như vậy, ta sẽ thấy rằng ta có thể
hành thiền bất cứ lúc nào và bất cứ trong tư thế nào. Tôi biết có
rất nhiều người hiểu lầm rằng thiền chỉ có ngồi thôi (tọa thiền).
Nhưng thiền mà chỉ có ngồi thôi thì thiền đó giới hạn quá.
Trong đời sống hằng ngày, ta có bốn tư thế chính, đó là: Đi,
Đứng, Nằm và Ngồi. Như vậy, nếu thực tập thiền chỉ trong lúc
ngồi (tọa thiền) thì ta mới chỉ ứng dụng thiền được một phần tư
thôi. Ta cũng phải thực tập thiền trong lúc nằm, đi, đứng. Thiền
trong lúc chúng ta đi gọi là thiền đi hay thiền hành. Thiền trong
lúc nằm - thiền buông thư. Thiền trong lúc đứng - thiền đứng.
Và hơn thế nữa, ta có thể chế tác ra năng lượng của Niệm, Định
và Tuệ trong lúc ta ăn, uống, rửa bát... Vậy là ta có thêm thiền
ăn, thiền uống và thiền rửa bát...
Vậy Niệm là gì?
Ta có thể hiểu đơn giản: Niệm là nguồn năng lượng giúp ta
nhận biết những gì đang xảy ra trong giây phút đang là. Giây
phút đang là này bao gồm thân thể ta, tâm ta và hoàn cảnh
xung quanh, gọi tắt là Thân-Tâm-Cảnh.
Niệm trong tiếng Phạn là smrti. Chánh niệm là samyaksmrti.
Những gì đang xảy ra trong giây phút đang là, đó là: ta đang đi,
là hơi thở đang đi vào và đi ra, là tia nắng sớm đang chiếu qua
khe lá, là tiếng chim đang hót trong nắng xuân ấm, là tiếng cười
của trẻ thơ, là những tâm hành vui, buồn, giận, thương, ghét…
đang đến và đi trong tâm trí...
Có rất rất nhiều thứ đang diễn ra trong giây phút đang là này. Vì
ta mới thực tập thiền, vì ta là một hành giả rất mới, ta không dễ
cùng lúc nhận diện được hết tất cả những gì đang xảy ra trong
giây phút đang là. Vì Niệm, Định và Tuệ vẫn còn yếu nên ta tập
nhận diện, ý thức những gì rõ ràng, cụ thể và những gì ta muốn
nhận diện.
Trong nhiều kinh điển, Đức Thế tôn cũng thường dạy là hãy
nhấn mạnh vào hơi thở của chúng ta. Vì hơi thở ta luôn có đó,
hơi thở là điều kiện dễ dàng nhất để ta nuôi lớn năng lượng của
Niệm, Định và Tuệ. Thông qua hơi thở, ta cũng có thể biết được
trạng thái tâm của mình.
Ta tập nhận diện, ý thức sự vào, ra của hơi thở. Khi ta thở một
hơi vào và một hơi ra, ta ý thức đây là hơi thở vào và đây là hơi
thở ra. Nếu hơi thở vào dài, ta ý thức hơi thở vào dài. Nếu hơi
thở vào ngắn, ta ý thức hơi thở vào ngắn. Nếu hơi thở ra dài, ta ý
thức hơi thở ra dài. Nếu hơi thở ra ngắn, ta ý thức hơi thở ra
ngắn. Nhận diện và ý thức như vậy được gọi là phép niệm hơi
thở.
Thực tập như trên, ta cũng có thể gọi là sự thực tập chánh niệm
về hơi thở.
Năng lượng của Niệm luôn chứa trong nó năng lượng của Định,
năng lượng của Định sẽ phát sinh ra tuệ giác. Tuệ giác là cái
thấy biết sâu sắc về thực tại, giúp ta giải thoát mình khỏi những
vướng mắc, khổ đau.
Ví dụ như khi có một ai đó làm ta giận, nhờ thực tập chánh
niệm, ta nhận diện được cơn giận đang phát khởi trong lòng.
Lúc này cơn giận vẫn đang có đó, nhưng đồng thời năng lượng
chánh niệm cũng đang có đó, đang quan sát, đang ôm lấy cơn
giận.
Sự dừng lại, quan sát, nhận diện và ôm lấy cơn giận liên tục như
thế sẽ làm phát sinh nguồn năng lượng thứ hai, đó là Định. Vì có
Định nên ta có khả năng dừng lại, và khả năng nhìn sâu vào cơn
giận.
Khi ta có khả năng dừng lại và nhìn sâu vào cơn giận, ta sẽ thấy
được bản chất vô thường, khổ và vô ngã của cơn giận. Đồng
thời, cũng cho ta thấy được sự ảnh hưởng của cơn giận lên
chính thân tâm mình và môi trường xung quanh. Chính cái
“thấy” này giúp ta vượt thoát được cơn giận và đạt được tự do.
Cái “thấy” ấy gọi là Tuệ Giác.
Ta khám phá ra rằng ba nguồn năng lượng Niệm, Định và Tuệ
có trong nhau. Hễ một yếu tố này xuất hiện thì lập tức hai yếu
tố còn lại xuất hiện theo. Định là sự duy trì có mặt, nhận diện
đơn thuần trên một đối tượng của Niệm. Tuệ là thành quả của
sự dừng lại (Định) và nhìn sâu.
Ta không thể nhìn sâu vào thực tại Thân-Tâm- Cảnh nếu như ta
không có khả năng dừng lại.
LỢI ÍCH CỦA VIỆC HÀNH THIỀN
Thực hành thiền sẽ giúp cho ta thấy và hiểu được chính mình.
Nhận biết được những dòng tư tưởng đến, đi trong tâm thức.
Hành thiền giúp ta phục hồi được những giá trị tốt đẹp trong
tâm thức, cân bằng được đời sống trong xã hội hiện đại đầy
những áp lực, lo âu, căng thẳng.
Và quan trọng nhất là giúp cho ta trị liệu và chuyển hóa được rất
nhiều bệnh tật do sự căng thẳng của tâm thức đem tới.
Hành thiền sẽ cho ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa
Thân và Tâm. Và sự tác động của tâm thức bất an lên các bộ
phận của cơ thể. Ví dụ khi ta nóng giận sẽ ảnh hưởng đến gan.
Khi ta có nhiều sự sợ hãi sẽ ảnh hưởng đến thận. Khi ta vui quá
sẽ ảnh hưởng đến tim. Khi ta có quá nhiều lo âu, phiền muộn sẽ
ảnh hưởng đến tỳ vị, ăn không có cảm giác ngon miệng...
Giận hờn, muộn phiền, lo âu... là những hoạt động diễn ra trong
tâm, vậy nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến những bộ phận trong cơ
thể ta như Gan, Tỳ, Thận...
Thực tập thiền, dù chỉ trong một thời gian ngắn thôi, cũng sẽ
giúp ta nhận ra được thiền tập có công năng trị liệu, chuyển hóa
những căng thẳng, lo lắng, muộn phiền, sợ hãi.
Và thiền tập còn giúp cho ta có được niềm vui, sự an định, nhẹ
nhàng, thư giãn. Thiền còn giúp cho ta thăng hoa, kết nối được
với chính mình, với những người mình thương. Thiền giúp ta
tháo gỡ những bế tắc, xoa dịu những tổn thương và thiết lập lại
được mối quan hệ với những người xung quanh.
Khi ta bắt đầu thực hành thiền, ta có thể thực tập một mình
hoặc với một nhóm bạn. Và quan trọng nhất trong bước đầu
hành thiền là ta nên học trực tiếp với một vị thầy có nhiều năm
kinh nghiệm tu tập, hướng dẫn.
THIỀN KHÔNG CẦN ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT NÀO CẢ!
Nhiều người hiểu lầm về thiền. Nhiều người cho rằng thiền là
tập trung tâm ý. Hoặc thiền là ngồi im một chỗ mắt lim dim. Vì
nghĩ rằng thiền là phải ngồi im một chỗ nên sợ không dám tiếp
cận thiền vì không thể ngồi yên liên tục được.
Rồi một số người còn nghĩ rằng thiền là phải tập trung, và muốn
tâm có sự tập trung thì phải có những điều kiện nào đó phụ trợ.
Những điều kiện đó như là: không gian tĩnh lặng, không được
phép có tiếng động khi thiền... Có thể chính vì có những ý tưởng
này nên người muốn hành thiền thường hay lên núi cao, hoặc
vào rừng sâu, nơi không có tiếng ồn nào khuấy động...
Thiền là chiều kích tâm thức vượt lên trên tâm trí. Chỉ có tâm
trí cần tập trung thôi, mà tâm trí muốn có sự tập trung thì phải
nương vào những điều kiện, còn thiền chỉ đơn thuần trọn vẹn
và nhận biết thực tại đang là.
Thiền không cần điều kiện đặc biệt nào cả. Có tiếng ồn của xe,
thì đơn giản nhận biết có tiếng ồn của xe, chỉ thế thôi. Không
cần tập trung tâm ý. Vì hễ có sự tập trung thì sẽ có mất tập
trung, còn trạng thái nhận biết trọn vẹn của tâm thức luôn có
mặt đó sáng ngời.
An trú ngay nơi trạng thái trọn vẹn, nhận biết sáng ngời này của
tâm thức chính là thiền. Và như thế, ta có thể thiền mọi lúc, mọi
nơi, mọi tư thế.
Khi đi trọn vẹn, nhận biết mỗi bước chân thì đó là thiền đi.
Khi thở trọn vẹn, nhận biết từng hơi thở ra vào, đó là thiền thở.
Và hành thiền theo cách này, ta sẽ thấy sức sống của thiền trở
nên mãnh liệt; thiền trở nên sinh động, linh động, có thể ứng
dụng được mọi lúc mọi nơi.
Thiền theo cách này luôn trở về với sự trọn vẹn, nhận biết của ta
sẽ không cần phải tìm một nơi chốn đặc biệt nào để hành thiền.
Thiền theo cách này, ta sẽ không tiếc nuối bất kỳ một cảm giác
Hỷ lạc, hay một trạng thái Định nào đó khi nó không lặp lại...
Tâm có Định thì chỉ cần nhận biết tâm có Định, tâm không có
Định thì nhận biết tâm đang không có Định, tâm có Hỷ lạc thì
nhận biết tâm đang có Hỷ lạc, tâm không có Hỷ lạc thì nhận biết
tâm đang không có Hỷ lạc...
Thiền theo cách này, bạn hoàn toàn thảnh thơi mà không cần cố
gắng, chẳng cần phải kiểm soát, điều khiển bất cứ điều gì…, chỉ
trở về trọn vẹn, nhận biết thực tại đang diễn ra nơi Thân-TâmCảnh trong giây phút đang là.
ĐỐI TƯỢNG NÀO NÊN THỰC TẬP THIỀN?
Vì thiền tập mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực trong hiện tại
và phù hợp với mọi đối tượng nên thiền phù hợp cho mọi giới.
Ngày nay, thiền tập được áp dụng thành công không chỉ cho học
sinh, sinh viên, mà còn cho cả trẻ mẫu giáo. Các bé mẫu giáo tuy
nhỏ, nhưng nếu ta biết cách hướng dẫn, các cháu vẫn có thể
thực hành được nhiều bài thiền tập đơn giản như: nghe chuông
chánh niệm, thực tập ăn trong chánh niệm, tọa thiền tĩnh tâm,
đi thiền hành...
Học sinh, sinh viên nếu thực hành thiền sẽ tăng khả năng chú
tâm. Khi tâm có khả năng chuyên chú trên một đối tượng thì
việc tiếp thu bài vở ở trường hay lắng nghe bài giảng của thầy cô
giáo cũng sẽ hiệu quả hơn.
Giáo viên nếu thực hành thiền thì sự cảm thông, kết nối với học
sinh của mình cũng được tăng lên. Giáo viên thời hiện đại
không chỉ đóng vai trò là người trao truyền kiến thức, mà hơn
thế nữa, còn là người giúp cho những học trò thân yêu của mình
có được cảm hứng học tập và phát huy được tài năng, năng
khiếu riêng.
Nếu trong một tuần mà có một hoặc hai tiết học giáo viên và
học sinh cùng nhau thiền tập thì năng lượng của lớp học sẽ trở
nên ấm áp, bình an và yêu thương. Những giây phút được tĩnh
lặng cùng bạn bè, thầy cô của mình sẽ đi sâu vào tâm trí, trở
thành ký ức đẹp của người học trò và sẽ là hành trang tâm linh
cho các em sau này.
Nếu bạn là bác sĩ, là y tá thì bạn càng cần phải thực hành thiền.
Đôi khi áp lực công việc, đặc biệt là khi tiếp xúc với những bệnh
nhân khó tính dễ làm tâm mình xao động, bất an; hoặc nếu mệt
mỏi trong đời sống hằng ngày thì dễ mắc phải sai sót trong chẩn
bệnh, dẫn đến kết quả không có lợi cho người bệnh cũng như
cho chính mình.
Thực tập thiền sẽ giúp ta cân bằng được trạng thái tâm đó để
đưa ra những chẩn đoán có tính chính xác cao. Và quan trọng
hơn hết là nhờ hành thiền, ta luôn giữ được thái độ điềm tĩnh,
an hòa, lân mẫn, thương yêu và bình an. Chính năng lượng
thương yêu, bình an trong ta sẽ xoa dịu rất nhiều nỗi khổ đau
của bệnh nhân.
Nếu làm được như vậy thì đôi khi sau một ca trị bệnh, ta lại có
thêm rất nhiều người thân.
Nếu bạn là doanh nhân thì lại càng không nên bỏ qua việc hành
thiền. Bởi vì chính thiền tập sẽ cho ta hướng đi trong việc kinh
doanh, giúp ta biết cách quản lý Nghiệp của mình và quan trọng
nhất là ta có thể cân bằng được công việc ở công ty và thời gian
dành cho vợ, cho chồng, cho con.
Thiền tập bây giờ giống như sợi dây giữ ta lại mỗi khi ta bị công
việc cuốn đi. Không những vậy, là một doanh nhân, nếu ta có
thời gian hành thiền sẽ giúp cho mối quan hệ của ta với nhân
viên cũng được tốt đẹp hơn, sâu sắc và bền chặt hơn.
Nếu bạn là một nghệ sĩ, một nhạc sĩ, một nhà văn mà có hành
thiền thì giá trị tác phẩm của bạn sẽ tăng thêm một chiều kích
mới - chiều tâm linh. Thậm chí tác phẩm của bạn có thể định
được cả hướng đi cho xã hội. Và hướng đi ấy sẽ đi về hướng của
hiểu biết, yêu thương, của tha thứ bao dung. Thiên đàng trên
y
g
g
g
mặt đất đang có mặt trong tác phẩm của bạn, trong những đứa
con tinh thần đã ra đời hoặc còn thai nghén. Và bạn nên nhớ
rằng tài năng của mình có thể trang trải yêu thương.
Nếu bạn là một nhà chính trị thì càng phải nên hành thiền. Bởi
đôi khi những quyết định của bạn có thể ảnh hưởng đến hạnh
phúc, bình an không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình mà còn
cả quốc gia, thậm chí cả châu lục. Nếu quyết định đó không sáng
suốt thì hậu quả là vô cùng lớn. Khi hành thiền, tâm trí trở nên
an tịnh như một mặt hồ trong vắt ngày thu. Lúc ấy, mặt hồ
phản chiếu rõ ràng tất cả những sự vật xung quanh, cây cối,
chim chóc, và cả trời mây. Bạn sẽ thấy khung cảnh bên ngoài
một cách sáng rõ khi nhìn vào mặt nước tĩnh lặng của hồ thu.
Và nó cũng giống vậy với tâm của bạn. Một khi tâm bạn tĩnh
lặng, nó sẽ phản ánh tình hình chính trị, kinh tế của tỉnh nhà,
của quốc gia mình, và của cả thế giới một cách trọn vẹn, rõ ràng.
Và quyết định bạn đưa ra sẽ là một quyết định sáng suốt. Quyết
định ấy sẽ giúp ích được cho rất nhiều người.
Bạn là bố, là mẹ thì bạn lại càng cần phải hành thiền. Nhờ thiền
tập mà bạn sẽ thấy ra con cái là sự tiếp nối của chúng ta. Nếu
chúng ta mỗi ngày đều có thể chế tác ra những năng lượng tích
cực, an vui, nếu ta luôn có suy nghĩ thiện lành, lời nói thiện
lành, hành động thiện lành thì con của chúng ta sẽ được tiếp nối
đầy đủ những điều ấy và ngược lại. Nếu ta không khéo léo, ta để
những năng lượng của bạo động, giận hờn, si mê lấn át thì con
cái của chúng ta cũng sẽ tiếp nối những năng lượng ấy.
Nếu bố mẹ, con cái cùng nhau thiền tập thì bầu không khí trong
gia đình sẽ trở nên dịu mát. Năng lượng hiểu, thương của mọi
người sẽ thấm đẫm và chan hòa. Gia đình sẽ trở thành một mái
ấm yêu thương, chở che cho các thành viên trong những ngày
đông rét của cuộc đời.
Thiền rất thiết thực, rất sâu lắng. Thiền chính là đời sống của
chúng ta. Chính vì vậy, bất cứ ai cũng nên học và hành thiền.
Ở
QUÁN TƯỞNG TRƯỚC KHI ĂN
Nếu bạn có cơ hội về thiền viện Pháp Quang tu tập một thời
gian, bạn sẽ được thực tập thiền mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là
trước khi ăn và trong khi ăn.
Trong cuộc sống hối hả, bận rộn ngày nay, ta ít có được thời gian
trọn vẹn cho chính mình. Ta luôn bận rộn, và ta bận rộn ngay cả
trong lúc ăn. Ta không thực sự ăn những thức ăn đang có sẵn
trước mặt mình, mà ta ăn những suy tư, dự án, bất an, bồn
chồn, lo lắng của mình. Và rồi ta đánh mất đi cơ hội tận hưởng
tình thương, hương vị ngọt ngào thơm ngon trong bữa ăn mà
người thương ta nấu cho ta.
Khi ăn, ta không trọn vẹn với thức ăn mình đang đưa vào dạ dày
mà tâm ý luôn suy nghĩ vẩn vơ, người xưa gọi đó là tán tâm tạp
thoại.
Khi ta vào chùa hay thiền viện, phòng ăn còn được gọi là Ngũ
quán đường.
Vào trước bữa ăn, vị Duy na sẽ đọc khai thị và Năm phép quán.
Phật chế Tỳ Kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí
nan tiêu! Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm.
1) Kế công đa thiểu, lượng Bỉ lại xứ
2) Thổn kỷ Đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng
3) Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn
4) Chính sự lương dược, vi liệu hình khô
5) Vị thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực.
Phật chế Tỳ kheo, thực tồn ngũ quán: có nghĩa là Phật đã thiết
lập thể chế rằng các thầy Tỳ kheo trong khi ăn thì nên duy trì
thực tập theo năm phép quán.
Tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu: tán tâm nghĩa là tâm ta
trong khi ăn cứ tán loạn, không tập trung vào việc ăn. Miệng ta
đang nhai, nhưng tâm không có mặt cho hành động nhai, nuốt
thức ăn. Ta không thưởng thức trọn vẹn hương vị thức ăn đang
tiếp nhận vào cơ thể mà tâm trí nghĩ vẩn vơ về chuyện này,
chuyện kia, chuyện trên chuyện dưới. Và vì thế, thức ăn của tín
thí cúng dường cho ta thọ nhận không thể tiêu hóa được. Điều
này cũng rất đúng dưới góc nhìn y học. Khi ta ăn, máu sẽ dồn
xuống bao tử để giúp bao tử tiêu hóa thức ăn dễ dàng. Nhưng
trong lúc ăn, ta lại suy nghĩ thì lượng máu xuống bao tử sẽ bị
chia bớt lên trên não. Do đó, sự tiêu hóa thức ăn sẽ khó khăn
hơn. Lâu ngày có thể ta sẽ bị đau bao tử. Và điều quan trọng
nhất là khi ăn mà suy nghĩ vẩn vơ thì ta sẽ đánh mất đi sự
thưởng thức cũng như sự nhiệm mầu của thức ăn mà ta đang
thọ dụng.
Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm: nghĩa là mọi
người khi nghe tiếng khánh thỉnh lên thì thực tập duy trì chánh
niệm.
Sau phần khai thị này là phần thực tập năm quán.
Quán thứ nhất là kế công đa thiểu, lượng Bỉ lại xứ.
Kế công đa thiểu là xem xét coi công phu làm ra thức ăn mà
chúng ta thọ dụng là nhiều hay ít.
Lượng Bỉ lại xứ là tìm hiểu xem thức ăn này từ đâu mà tới. Thức
ăn này nếu ta nhìn sâu sẽ thấy rằng thức ăn đến từ người nông
phu, từ mưa, nắng, từ những công lao động gặt hái vất vả của
nông dân, từ những con người cần mẫn trên cánh đồng cháy
nắng, từ bàn tay khéo léo của người làm bếp...
Quán thứ hai là Thổn kỷ Đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng.
Ta coi thử mình có đủ Đức hạnh để xứng đáng thọ lãnh thức ăn
này hay không? Trong đời sống hằng ngày, ta có ngăn ác, diệt ác
pháp hay không? Ta có nuôi dưỡng điều thiện đã sanh và phát
triển những điều thiện chưa sanh hay không? Ta có thực tập đầy
đủ Từ, Bi, Hỷ và Xả để nuôi lớn bốn tâm vô lượng này hay
không?
Quán thứ ba là phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn.
Phòng ngừa tâm mình tránh xa những lỗi lầm, tật xấu, mà tật
xấu hàng đầu đó là tham. Trong khi ăn, ta có thấy rằng con mắt
mình to hơn bao tử không? Thấy thức ăn ngon thì gắp thật
nhiều mà cho là ít, để rồi không thể ăn hết, bỏ mứa. Luyện được
chuyện ăn uống có chừng mực, chuyển hóa được tật tham ăn, có
thể nói đó đã là công phu rồi.
Quán thứ tư là chính sự lương dược, vi liệu hình khô.
Khi ăn, ta phải xem thức ăn như là lương dược, như là thuốc để
giúp cho cơ thể ta không bị gầy mòn, ốm yếu. Thân ta như chiếc
bè. Ta cần một chiếc bè tốt để qua bờ tử sanh. Ta không quá coi
trọng thân thể nhưng ta cũng phải chăm sóc thân thể mình
đàng hoàng.
Quán thứ năm là vị thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực.
Vì sao ta thọ nhận thức ăn này? Ta thọ nhận thức ăn này bởi vì
ta muốn hoàn thành đạo nghiệp của mình. Ta thọ nhận thức ăn
này vì ta muốn duy trì thân thể ở trạng thái tốt, hỗ trợ cho việc
tu tập đạt được giải thoát, độ mình độ tha nhân ra khỏi vòng
trầm luân sanh tử, khổ đau phiền não nơi thế giới ta bà này.
BỐN ĐỐI TƯỢNG CỦA THIỀN TẬP
Trong kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98, Đức Phật có dạy cho
chúng ta về bốn đối tượng mà chúng ta có thể tu tập trên đó.
Bốn đối tượng đó là Thân Thể, Cảm Thọ, Tâm Ý và đối tượng của
Tâm Ý.
Vậy ta tu tập trên bốn đối tượng này như thế nào? Trước hết,
chánh niệm luôn là sự khởi đầu của tất cả các nền tảng công
phu tu tập, của các Pháp môn hành trì. Nếu không có chánh
niệm thì ta không thể nào nhận biết được những gì xảy ra một
cách sáng suốt, trong lành và định tĩnh được.
Thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý giống như một
căn nhà có bốn phòng. Mỗi phòng của căn nhà này đều chứa
nhiều đồ đạc. Căn nhà không có đèn, ánh sáng mặt trời cũng
không thể nào chiếu vào được. Vì vậy, phòng nào cũng đều tối
hết.
Nếu ta muốn đi vào nhà và đi vào từng phòng thì sẽ rất khó
khăn. Do đồ đạc nhiều và không ngăn nắp, gọn gàng, hơn nữa
lại không có ánh sáng nên ta không thấy đường, vì thế ta dễ bị
vấp té bất cứ lúc nào.
Ta muốn dọn dẹp căn nhà cho thật gọn gàng và sắp xếp lại mọi
thứ trong từng phòng thì trước tiên, ta phải bật đèn lên. Làm
sao ta có thể dọn dẹp một căn nhà có bốn phòng nếu như ta
không thấy gì trong đó. Ánh sáng rất cần cho trường hợp này.
Ta muốn thân thể ta an tịnh, tâm ta nhẹ nhàng an lạc, thảnh
thơi thì ta cũng cần phải thắp lên ngọn đèn cho thân tâm mình.
Ngọn đèn đó là năng lượng của chánh niệm.
Một khi ngọn đèn chánh niệm được thắp lên, một khi ng
 





